Trò chuyện với NTK Phạm Ngọc: Chiết trung Việt - Khi cái riêng gặp gỡ thế giới

Trò chuyện với NTK Phạm Ngọc: Chiết trung Việt - Khi cái riêng gặp gỡ thế giới

15/09/2026 10:00

Sau 20 năm thực hành, NTK Phạm Ngọc gọi ngôn ngữ mình theo đuổi là “Chiết trung Việt” – Vietnamese Eclectic. Với chị, đó là một tư tưởng về tự do: cho phép những khác biệt gặp nhau, đối thoại và chuyển hóa, nhưng luôn được giữ lại bằng kỷ luật của bố cục, cấu trúc và một logic xuyên suốt. Dường như với chiết trung, chị tìm kiếm một cách tư duy hơn là một hình thức, ở đó ký ức gặp hiện tại, cái riêng gặp cái chung và bản sắc được hình thành ngay trong quá trình giao thoa.

Vũ Hiệp: 20 năm là một quãng thời gian khá dài đối với một người làm nghề. Nhưng tôi nghĩ thời gian tự nó chưa chắc đã làm cho một nhà thiết kế trưởng thành. Nhìn lại hành trình của mình, điều gì thay đổi rõ nhất ở Phạm Ngọc của hôm nay so với 10 hay 20 năm trước?

NTK Phạm Ngọc: Có lẽ điều rõ nhất là hôm nay tôi biết mình là ai và mình muốn gì. Điều quan trọng sau quãng thời gian ấy là mình bắt đầu nhìn thấy một sợi dây xuyên suốt trong những việc mình làm. Có những lựa chọn tưởng rất bản năng, nhưng khi nhìn lại, tôi nhận ra chúng liên quan đến ký ức, đến cách mình lớn lên, đến cách mình quan sát đời sống và đến niềm tin rằng nội thất trước hết phải phục vụ con người chứ không phải tồn tại như một hình ảnh hoàn mỹ.

tro-chuyen-voi-ntk-pham-ngoc-chiet-trung-viet-khi-cai-rieng-gap-go-the-gioi_2.jpg

NTK Phạm Ngọc

Vũ Hiệp: Đôi khi, những ngôn ngữ thiết kế cá nhân có nguồn gốc từ một ký ức khá sâu. Liệu có điều đó ở chị?

NTK Phạm Ngọc: Đó là căn nhà của bà nội tôi. Một căn nhà hai tầng nhỏ, nơi nhiều thế hệ cùng chung sống. Căn phòng tôi ở với bà nằm trên tầng hai, cạnh khu thờ. Tôi nhớ một ô cửa sổ rất lớn nhìn ra cây xà cừ già, những tán lá um tùm và những mái ngói nhấp nhô phía xa. Đó gần như là nơi duy nhất tôi có thể phóng tầm mắt ra ngoài và tưởng tượng những câu chuyện của riêng mình.

Tôi cũng nhớ chiếc ban công nhỏ trồng rất nhiều hoa bỏng màu đỏ, mùi hoa huệ trong phòng thờ và tiếng bà tụng kinh mỗi tối.

Căn nhà ấy không rộng. Các chức năng đều tối thiểu và đời sống của ba thế hệ gần như được nén lại với nhau. Khi còn nhỏ, có lúc tôi thấy điều đó thật chật chội. Nhưng sau này tôi hiểu chính sự chật chội ấy tạo nên sự gần gũi cả về vật lý lẫn tinh thần giữa các thành viên trong gia đình.

Có lẽ bởi vậy, sau này khi gặp một công trình nhỏ, tôi không bao giờ nghĩ diện tích hạn chế là một trở ngại tuyệt đối. Tôi luôn tin rằng trong một không gian tưởng như rất hẹp, chúng ta vẫn có thể tìm ra một góc cho riêng mình – một nơi mình được là mình và cảm thấy nó thực sự thuộc về mình.

Vũ Hiệp: Như vậy, “nếp nhà” đối với chị không chỉ là một cách bố trí kiến trúc, mà còn là quan hệ giữa những người sống trong đó?

NTK Phạm Ngọc: Tôi chịu ảnh hưởng khá sâu từ văn hóa Bắc Bộ. Nhà ba gian hai chái hay những căn nhà ống cổ trên các phố Hàng luôn làm tôi quan tâm. Điều hấp dẫn tôi không chỉ nằm ở hình thức của chúng, mà ở việc không gian được hình thành từ chính nếp sống: có lớp lang, có khoảng nghỉ, mái hiên, hành lang; có ánh sáng, nắng, gió; có những trạng thái kín và hở khác nhau.

Nhưng sâu hơn kiến trúc là quan hệ gia đình. Khi nói đến một không gian Việt, hình ảnh đầu tiên xuất hiện trong tôi thường là cái bếp, mâm cơm, những người bà, người mẹ. Điều tôi sợ mất đi không hẳn là một kiểu nhà hay một món đồ cụ thể, mà là “nếp nhà” – tức khả năng một gia đình giáo dưỡng, nâng đỡ và kết nối các thế hệ với nhau.

Không gian có thể thay đổi rất nhiều theo thời đại, nhưng nhu cầu thuộc về một nơi nào đó và thuộc về những người nào đó thì vẫn còn.

tro-chuyen-voi-ntk-pham-ngoc-chiet-trung-viet-khi-cai-rieng-gap-go-the-gioi_3.jpg

Bàn Hiền Hậu

Vũ Hiệp: Có một nghịch lý trong thiết kế nội thất: chúng ta thường chụp một công trình khi nó hoàn hảo nhất, chưa có người ở, chưa có đồ đạc xô lệch, chưa có dấu vết sử dụng. Nhưng nhà ở thực tế lại bắt đầu “sống” chính từ lúc trạng thái hoàn hảo ấy kết thúc. Chị nhận ra điều này từ khi nào?

NTK Phạm Ngọc: Tôi nhớ rất rõ một buổi chiều khi tôi khoảng 32 tuổi. Tôi đến nhà một người bạn. Bạn có con nhỏ nên bảo tôi tự mở cửa sau, đi qua bếp vào nhà. Khu bếp lúc ấy khá lộn xộn: bát đũa chưa rửa, một nồi thức ăn vẫn đang đun liu riu trên bếp, bên cạnh là một cốc nước và một bình hoa hồng đang nở. Không hiểu vì sao cảnh ấy làm tôi rất xúc động.

Tôi nhận ra rằng không có sự hoàn mỹ tuyệt đối trong một ngôi nhà, và có lẽ cũng không nên có. Nội thất không phải một sân khấu luôn được chuẩn bị để chụp ảnh. Nó phải có khả năng chứa đời sống thật của con người – những thói quen, những bất toàn, những ký ức, thậm chí cả sự bừa bộn.

Từ đó tôi càng tin rằng linh hồn của một căn nhà không nhất thiết nằm ở đồ nội thất. Đồ đạc có thể rất đẹp, nhưng phần linh hồn phải thuộc về người sử dụng.

Vật liệu rồi cũng già đi. Đồ vật cũng có tuổi thọ. Tôi không chống lại những dấu vết ấy. Điều quan trọng là trong quá trình biến đổi đó, căn nhà vẫn cho người sống trong nó cảm giác đây là nơi của mình.

Vũ Hiệp: Vậy nếu phải rút gọn thành một yêu cầu cơ bản nhất, một không gian sống tốt cần làm gì cho con người?

NTK Phạm Ngọc: Làm cho họ cảm thấy an toàn, để có thể nghỉ ngơi và hồi phục. Trước khi nói đến phong cách, vật liệu hay những điều lớn lao hơn, nhà ở phải làm được điều rất căn bản đó.

Khi thiết kế, tôi thường quan tâm đến tính cá nhân của từng thành viên, đồng thời tìm một điểm để những cá nhân ấy kết nối với nhau. Một gia đình không phải là một cá thể duy nhất. Mỗi người cần có khoảng riêng, thói quen riêng, trạng thái riêng. Nhưng căn nhà cũng cần tạo nên một vùng chung khiến họ muốn trở về.

Với tôi, tâm hồn của ngôi nhà có lẽ xuất hiện ở chính điểm ấy: mỗi người cảm thấy mình được là mình, nhưng đồng thời vẫn cảm thấy mình thuộc về một gia đình.

tro-chuyen-voi-ntk-pham-ngoc-chiet-trung-viet-khi-cai-rieng-gap-go-the-gioi_4.jpg

Nội thất trong căn hộ Ecopark

Vũ Hiệp: Điều đó đặt ra một câu hỏi khác về vai trò của nhà thiết kế. Có quan niệm cho rằng nhà thiết kế cần lùi lại để người ở được hiện diện. Nhưng cũng có những nhà thiết kế có ngôn ngữ rất mạnh. Chị đứng ở đâu giữa hai cách nhìn này?

NTK Phạm Ngọc: Tôi không nghĩ vấn đề nằm ở chuyện ai lùi lại và ai tiến lên. Điều cần phát triển là phương pháp của nhà thiết kế: khả năng quan sát, hiểu tâm lý, mở rộng góc nhìn để tìm được điểm chạm với chủ nhà hay chủ đầu tư. Nhà thiết kế vẫn cần có tư duy và ngôn ngữ của mình, nhưng ngôn ngữ đó không nên áp lên đời sống của người khác.

Tất nhiên tôi muốn làm đẹp theo cách của mình. Nhưng nếu một không gian duy mỹ, không chứa được đời sống thì với tôi nó không phải một thiết kế thành công.

Vũ Hiệp: Trong nhiều năm gần đây chúng ta nói khá nhiều về “bản sắc Việt” trong kiến trúc và nội thất. Nhưng đôi khi Việt tính lại bị thu nhỏ thành tre trúc, mây đan, nón, sen, gốm, sơn mài hay một vài họa tiết truyền thống. Nếu bỏ toàn bộ những dấu hiệu ấy đi, điều gì còn lại?

NTK Phạm Ngọc: Tôi nghĩ bản sắc không chỉ nằm ở vật thể mà trước hết nằm trong cách một cộng đồng nhìn thế giới và tổ chức đời sống của mình. Nếu chỉ lấy một biểu tượng rồi đặt vào công trình để tuyên bố rằng đây là “Việt Nam”, thiết kế rất dễ trở thành minh họa văn hóa.

Người Việt, theo cảm nhận của tôi, có một khả năng rất đặc biệt là linh hoạt, cởi mở, thu nhận những điều hữu ích từ bên ngoài rồi chuyển hóa chúng thành thứ phù hợp với mình. Lịch sử văn hóa Việt Nam cũng cho thấy rất nhiều sự tiếp nhận và biến đổi như vậy.

tro-chuyen-voi-ntk-pham-ngoc-chiet-trung-viet-khi-cai-rieng-gap-go-the-gioi_5.jpg

Tủ Son Sắt

Vũ Hiệp: Có lẽ chính ở đây chúng ta chạm đến khái niệm mà An Duy gọi là “Chiết trung Việt” (Vietnamese Eclectic). Có một cách hiểu khá sơ khai, đơn giản trong thực hành thiết kế là lấy một chút thứ này cộng với một chút thứ kia. Chị hiểu “Chiết trung” theo nghĩa nào?

NTK Phạm Ngọc: Tôi coi nó trước hết là một tư tưởng về sự tự do. Tự do ở đây không phải muốn làm gì thì làm. Nó là khả năng cho những yếu tố khác nhau được gặp nhau, đối thoại với nhau, thậm chí phản biện nhau, để cuối cùng tìm ra một trạng thái dung hòa.

Văn hóa Việt Nam vốn đã hình thành qua rất nhiều quá trình tiếp nhận và chuyển hóa. Chúng ta đứng cạnh những nền văn minh lớn, trải qua nhiều biến động lịch sử nhưng vẫn tìm cách biến những thứ đi vào mình thành một phần của mình. Vì vậy tôi không nhìn chiết trung như việc phối nhiều phong cách. Nếu cần nói thật ngắn, tôi muốn gọi nó là nơi cái riêng hòa vào cái chung, cá nhân gặp gỡ thế giới.

Mỗi người mang theo ký ức, văn hóa, trải nghiệm của mình. Thế giới thì luôn rộng lớn và thay đổi. Thiết kế xuất hiện trong cuộc gặp giữa hai phía ấy.

Vũ Hiệp: Nhưng tự do càng lớn thì nguy cơ hỗn loạn càng cao. Nếu Chiết trung Việt không phải một công thức phối phong cách, điều gì giữ cho nó khỏi trở thành một tập hợp tùy tiện?

NTK Phạm Ngọc: Là kỷ luật. Những yếu tố rất khác nhau hoàn toàn có thể cùng tồn tại nếu mình nhìn thấy quan hệ giữa chúng. Trong thiết kế chiết trung, màu sắc hay vật liệu có thể tương phản rất mạnh. Đó chính là phần thú vị. Nhưng cấu trúc, bố cục, form dáng và câu chuyện tổng thể thì phải có kỷ luật.

Nhà thiết kế cần biết cái gì là chính, cái gì là phụ; cái gì cần nổi lên, cái gì cần lùi xuống. Nếu tất cả đều muốn trở thành nhân vật chính thì công trình sẽ trở thành hỗn loạn.

Vì vậy, điều giữ một không gian chiết trung vận hành như một thể hữu cơ, không phải sự đồng nhất về phong cách mà là một logic xuyên suốt. Khi không có kỷ luật hay khế ước, eclectic rất dễ chỉ còn là sự phô diễn.

Vũ Hiệp: Nếu tư tưởng ấy phải chuyển thành hình hài cụ thể, người ta có thể nhận ra nó trong không gian của chị bằng những dấu hiệu nào?

NTK Phạm Ngọc: Tôi thường nghĩ không gian theo lớp và theo quan hệ giữa các lớp ấy. Một không gian bị nhìn thấy hết ngay từ đầu thì không thú vị. Tôi thích trạng thái lúc được đóng lại, lúc thì mở ra - sự thay đổi ấy làm trải nghiệm trở nên giàu cảm xúc hơn. Một không gian nhiều lớp, một vật phẩm có khả năng gợi mở đa nghĩa thì hấp dẫn hơn – đó cũng là chiết trung.

Trong không gian nội thất mang tính chiết trung, khoảng trống rất quan trọng – đó là lò luyện của những khác biệt, là nơi chuyển hóa các ranh giới. Khoảng trống không có nghĩa là chỗ chưa được thiết kế, mà là kết quả của việc kiểm soát bố cục đủ tốt để biết nơi nào cần dừng.

Về vật liệu, ba thứ tôi thường nghĩ tới là gỗ, sơn mài và kính. Tôi thích sự linh hoạt của chúng và khả năng đưa chúng vào những bối cảnh rất khác nhau. Nhưng vật liệu nào cũng chỉ có ý nghĩa khi nó thuộc về câu chuyện của công trình. Tôi không muốn vật liệu trở thành một bảng trưng bày kỹ thuật.

tro-chuyen-voi-ntk-pham-ngoc-chiet-trung-viet-khi-cai-rieng-gap-go-the-gioi_6.jpg

Nội thất tại Nhà hàng Cội (Cửa Nam)

Vũ Hiệp: Chị nhắc đến sơn mài và đồng thời nói nhiều đến vật liệu công nghiệp. Tôi thấy đây là một vấn đề đáng chú ý của thiết kế Việt Nam hiện nay: chúng ta muốn giữ thủ công nhưng lại sống trong một xã hội công nghiệp. Chị nhìn quan hệ này như thế nào?

NTK Phạm Ngọc: Sự kết hợp giữa thủ công và công nghiệp là một quá trình tất yếu. Thậm chí trong điều kiện hiện nay, tôi nghĩ đó gần như là con đường chúng ta phải đi. Thủ công mang theo ký ức, kỹ năng của con người và chiều sâu của văn hóa vật liệu. Công nghiệp đem lại những khả năng khác về kỹ thuật, độ chính xác, sản xuất và khả năng phổ biến.

Có những thứ cần được tôn trọng trong trạng thái vốn có, nhưng cũng có những thứ cần được tái diễn giải để bước vào một đời sống mới. Nếu chỉ giữ một hình thức cũ mà tách nó khỏi đời sống hiện tại thì truyền thống rất dễ biến thành sân khấu.

Vũ Hiệp: Tôi muốn quay trở lại chữ “sang trọng”. Trong nội thất cao cấp, sang trọng thường bị đồng nhất với vật liệu đắt tiền hoặc sự phô bày khả năng sở hữu. Với chị, sang trọng nằm ở đâu?

NTK Phạm Ngọc: Đây là một khái niệm rất khó định nghĩa chung cho tất cả mọi người. Với tôi, sự sang trọng của một không gian đến từ sự tiết chế trong bố cục và form dáng; sự sắc nét trong tổ chức công năng; sự mạnh dạn trong vật liệu và màu sắc; và sự dịu dàng trong ánh sáng. Một không gian có thể sử dụng kiểu dáng, vật liệu rất tốt nhưng nếu mọi thứ đều cố gắng gây ấn tượng thì cuối cùng lại khiến con người mệt mỏi.

Tôi muốn khi bước vào một không gian, trước khi người ta kịp nhận diện món đồ nào đắt hay rẻ, họ cảm thấy an lành và được cái đẹp vỗ về. Đó là cảm giác tôi quan tâm hơn.

Vũ Hiệp: Như vậy “Vietnamese Eclectic” cũng cần có những điều nó từ chối. Theo chị, ranh giới nguy hiểm nhất của cách làm này là gì?

NTK Phạm Ngọc: Là khi thiết kế biến thành một phương tiện để phô diễn tài sản hoặc phô diễn một cái tôi chưa thực sự được tìm thấy. Tôi cũng khá dè dặt với những thiết kế mang yếu tố Việt chỉ bằng tên gọi hoặc cố ép một hình thức nào đó vào công trình.

Nếu chủ nhà có một món đồ họ yêu quý, kể cả nó không hoàn toàn phù hợp với tổng thể ban đầu, tôi sẽ không vội loại bỏ. Nếu đó là một ký ức thực sự của họ, nhiệm vụ của nhà thiết kế là tìm một vị trí hợp lý cho nó. Nhưng một món đồ chỉ đẹp thôi thì chưa đủ lý do để tồn tại. Tôi sẵn sàng bỏ nó nếu nó không thuộc về câu chuyện chung.

Tôi nghĩ đây cũng là ranh giới giữa thiết kế và trang trí: thiết kế cần một cấu trúc ý nghĩa.

Vũ Hiệp: Nhưng ở đây xuất hiện một nghịch lý khác. Một ngôn ngữ càng gắn với cá tính người sáng lập thì càng khó trở thành tài sản của một thương hiệu. Vietnamese Eclectic hiện là ngôn ngữ của Phạm Ngọc hay của An Duy?

NTK Phạm Ngọc: Tôi muốn nói là của cả hai. Những gì thuộc về tôi là 20 năm thực hành, những quan sát, thử nghiệm, sai lầm và trực giác tích lũy trong quá trình đó. Nhưng nếu tất cả chỉ nằm trong trực giác của Phạm Ngọc thì nó sẽ dừng lại cùng Phạm Ngọc.

Điều An Duy cần làm ở giai đoạn này là hệ thống hóa phần có thể chuyển giao: cách sử dụng vật liệu, màu sắc, ánh sáng, cấu trúc không gian; cách tiếp cận văn hóa; và quan trọng hơn là phương pháp tìm kiếm câu chuyện cho từng công trình.

Mỗi dự án có thể có một câu chuyện khác, một ngôn ngữ khác. Điều cần được truyền lại không phải một bộ hình thức, mà là cách tư duy.

Vũ Hiệp: Có lẽ đây cũng là lý do thời điểm 20 năm được An Duy gọi bằng chữ “FLOW” – dòng chảy. “Dòng chảy” đối với chị là một hình ảnh truyền thông hay thực sự là một khái niệm thiết kế?

NTK Phạm Ngọc: Với tôi, nó có quan hệ trực tiếp với cách tôi nghĩ về thiết kế. Trong một công trình, “flow” là khi câu chuyện của con người được chuyển hóa thành ngôn ngữ không gian và trở thành một sợi chỉ đi xuyên qua tất cả các yếu tố: đường đi, ánh sáng, vật liệu, màu sắc, đồ vật. Khi sợi chỉ ấy tồn tại, những yếu tố rất khác nhau vẫn có thể thuộc về cùng một tổng thể.

Ở một nghĩa khác, tôi cũng nhìn 20 năm của An Duy như một dòng chảy. Có những thứ bắt đầu từ bản năng cá nhân, dần trở thành kinh nghiệm, rồi thành một cách nhìn. Và đến một thời điểm, cách nhìn ấy cần được chuyển hóa thành một hệ thống lớn hơn cá nhân mình.

Tôi không nghĩ FLOW là một điểm kết thúc hay một tuyên bố rằng chúng tôi đã tìm được câu trả lời cuối cùng. Ngược lại, nếu tinh thần của Vietnamese Eclectic thực sự là cởi mở và chuyển hóa thì nó phải còn tiếp tục thay đổi.

Vũ Hiệp: Và nếu phải nói một câu về điều chị muốn giữ lại lâu nhất sau 20 năm làm nghề?

NTK Phạm Ngọc: Có lẽ là giữ cho mình một tâm hồn trong sáng và khả năng yêu cái đẹp trong những thứ rất bình thường của đời sống. Bởi nếu không còn khả năng rung động trước đời sống, nhà thiết kế rất dễ chỉ còn kỹ thuật.

Và tôi nghĩ cái đẹp cuối cùng không phải để chúng ta sở hữu. Nó giúp chúng ta nhận ra mình đang sống.

Thực hiện: Vũ Hiệp

Bình luận

Bài viết liên quan

Bánh Bánh Brixton: Diễn giải bản sắc Việt trong không gian nhà hàng đương đại tại London | House of Baby

Bánh Bánh Brixton: Diễn giải bản sắc Việt trong không gian nhà hàng đương đại tại London | House of Baby

Tại Brixton, London, House of Baby cải tạo nhà hàng Việt Bánh Bánh bằng cách chắt lọc những dấu ấn quen thuộc của kiến trúc và đời sống Việt Nam – từ hình thái nhà ống, văn hóa dùng bữa chung đến bảng màu gợi nhắc kiến trúc hiện đại thế kỷ 20. Thay vì tái hiện chúng theo cách trực tiếp, studio đặt các chất liệu văn hóa ấy trong một ngôn ngữ nội thất và nghệ thuật đương đại, tạo nên cuộc đối thoại giữa ký ức Việt Nam và bối cảnh London.

SKIN1004 SoHo: Những hẻm núi giữa lòng New York

SKIN1004 SoHo: Những hẻm núi giữa lòng New York

Tại SoHo, New York, LMTLS Architecture biến flagship của thương hiệu mỹ phẩm Hàn Quốc SKIN1004 thành một “cảnh quan trong nhà”. Những khối gỗ uốn cong mô phỏng địa tầng kết hợp cùng hệ gương cao 2,7 m tạo cảm giác như bước giữa các hẻm núi, đồng thời chuyển hóa ý niệm “thiên nhiên nguyên bản” của thương hiệu thành một trải nghiệm bán lẻ giàu tính nhập vai.

Jonojé: Khi khách sạn trở thành phòng thí nghiệm vật liệu của Studio LOHO

Jonojé: Khi khách sạn trở thành phòng thí nghiệm vật liệu của Studio LOHO

Từ một xưởng sản xuất cọ cũ tại Bruges, Studio LOHO cải tạo Jonojé thành tổ hợp kết hợp studio, showroom, gallery, không gian sống và khách sạn boutique. Sáu phòng suite được xem như những “phòng thí nghiệm vật liệu”, nơi đất sét, thạch cao, gỗ và đá không chỉ hoàn thiện không gian mà trực tiếp định hình trải nghiệm lưu trú giàu tính xúc giác.

Dumpling Darlings: Khi chiếc đèn há cảo trở thành điểm nhấn của không gian izakaya | Open Studio

Dumpling Darlings: Khi chiếc đèn há cảo trở thành điểm nhấn của không gian izakaya | Open Studio

Lấy cảm hứng từ những quán izakaya Nhật Bản, Open Studio biến Dumpling Darlings tại Singapore thành một không gian ẩm thực nhỏ gọn nhưng giàu nhận diện. Mái thép dập lỗ màu đỏ đô, nội thất plywood may đo và đặc biệt là chiếc đèn há cảo khổng lồ “xuyên” qua mái tạo nên một cách diễn giải đương đại, hóm hỉnh về văn hóa quán ăn đường phố Nhật Bản.

Interior Daily là nền tảng thông tin chuyên sâu về kiến trúc – nội thất, cung cấp tin tức cập nhật, phân tích xu hướng, cảm hứng thiết kế và dữ liệu thị trường dành cho giới làm nghề. Với định hướng trở thành kênh tham chiếu đáng tin cậy cho kiến trúc sư, nhà thiết kế và doanh nghiệp, Interior Daily mang đến góc nhìn đa chiều, trung thực và thực tiễn về ngành công nghiệp thiết kế tại Việt Nam.
 
©2023. Toàn bộ bản quyền thuộc INTERIORDAILY